alanphan

Alan Phan – thư gửi hiệp hội ...

“Mặt trời trong tôi lặn để bình minh lại đến…My sun sets to rise again” – Robert Browning Kính thưa Quý Vị Dù chỉ mới nhận được 15 câu hỏi “chất...

Phạm Nhật Vượng

Phạm Nhật Vượng vào top tỷ phú xuất...

Không chỉ là tỷ phú đầu tiên của Việt Nam lọt vào danh sách do tạp chí Mỹ công bố, ông chủ của Vingroup còn là một trong 10 tỷ phú mới xuất sắc nhất n...

Bà Nguyễn Thị Thu Thủy

Nữ CEO Vingroup được Diễn đàn Kinh ...

Diễn đàn Kinh tế Thế giới (World Economic Forum) hôm 12.3 đã vinh danh 199 nhà lãnh đạo trẻ toàn cầu của 70 quốc gia trên thế giới. Bà Lê Thị Thu Thủy...

Bà Đàm Bích Thủy

Cựu CEO của ANZ Việt Nam sẽ về làm ...

Theo dự kiến, bà Đàm Bích Thủy sẽ về làm Tổng giám đốc của Ngân hàng VIB. Hiện ngân hàng đang chờ phê chuẩn việc chuyển đổi nhân sự từ phía Ngân hàng ...

CEO quốc tế

alanphan

Alan Phan – thư gửi hiệp hội Bất động sản

“Mặt trời trong tôi lặn để bình minh lại đến…My sun sets to rise again” – Robert Browning Kính thưa Quý Vị Dù chỉ mới nhận được 15 câu...

chuyển động doanh nghiệp

Chứng khoán Âu Việt

Hàng loạt công ty chứng khoán biến mất khỏi thị trường

Mắc nhiều sai phạm trong hoạt động, sai lầm về chiến lược kinh doanh dẫn tới thua lỗ, phá sản là lý ...

chiến lược kinh doanh

TONKIN Coffee

Ly cà phê đắng – Tonkin

Tonkin Coffee đã tự pha cho mình ly cà phê đắng ngắt qua việc vội vã nhân rộng chuỗi quán cà phê bán kèm đồ ăn và vay nợ quá nhiều. Ít kh...

Hàng loạt công ty chứng khoán biến mất khỏi thị trường

Mắc nhiều sai phạm trong hoạt động, sai lầm về chiến lược kinh doanh dẫn tới thua lỗ, phá sản là lý do chính khiến nhiều công ty chứng khoán rút khỏi thị trường.

Trong năm qua, hàng loạt công ty chứng khoán thành viên trên tổng số gần 200 doanh nghiệp đăng ký tại hai sở giao dịch chứng khoán Hà Nội và TP HCM gặp biến cố. Phổ biến nhất vẫn là kinh doanh thua lỗ triền miên và rút nghiệp vụ môi giới. Hầu hết các công ty này đều có vốn điều lệ trên 100 tỷ đồng, có đơn vị từng lọt top 10 thị phần môi giới.

Đầu năm 2012, ba công ty chứng khoán Đông Dương, Hà Nội và Trường Sơn là những doanh nghiệp đầu tiên rút tư cách thành viên tại 2 sở giao dịch. Tiếp đó là Chứng khoán SME sau những bê bối pháp lý của lãnh đạo. Các doanh nghiệp này vẫn chưa công bố báo cáo tài chính năm 2012, tuy nhiên, tất cả đều lỗ trên 20 tỷ đồng năm 2011. Sau khi bàn giao khách hàng sang đơn vị chứng khoán khác, trụ sở các công ty này cũng chuyển qua nhiều nơi khác nhau, website và số điện thoại liên lạc không còn hoạt động khiến nhiều nhà đầu tư cảm giác chúng gần như “bốc hơi” khỏi thị trường.
Chứng khoán Âu Việt

Một số công ty chứng khoán vẫn giữ liên lạc với nhà đầu tư, nhưng do kinh doanh thua lỗ nên đang tính kế giải thể. Đình đám nhất thời gian qua phải kể đến Chứng khoán Âu Việt. Vốn điều lệ công ty đạt 360 tỷ đồng, nhưng hơn 2 năm, Chứng khoán Âu Việt liên tiếp thua lỗ, hiện lỗ lũy kế lên tới 151 tỷ đồng. Công ty chính thức giã từ sân chơi chứng khoán sau đại hội cổ đông lần cuối tổ chức ngày 20/3 vừa qua, cổ phiếu công ty sau đó cũng bị hủy niêm yết.

Chứng khoán Chợ Lớn với vốn điều lệ 90 tỷ đồng đang hoàn tất những thủ tục cuối cùng trước khi nói lời tạm biệt. Năm 2012, doanh nghiệp gánh khoản lỗ 3,1 tỷ đồng, doanh thu cả năm chỉ đạt 8 tỷ đồng, bằng 34% cùng kỳ năm trước. Hiện Chứng khoán Chợ Lớn chỉ còn 7 nhân sự, chủ yếu là hội đồng quản trị cùng ban điều hành công ty. Hai năm qua, công ty cũng không trả thưởng cho đội ngũ lãnh đạo vào các dịp đặc biệt.

Chứng khoán Sao Việt hiện cũng còn 7 nhân sự. Tại thời điểm 31/12/2012, lỗ lũy kế công ty là 92,89 tỷ đồng, chiếm gần 68% vốn điều lệ. Công ty đã phải rút bớt nghiệp vụ môi giới, lưu ký chứng khoán và bị kiểm toán nghi ngờ khả năng hoạt động liên tục trong tương lai. Giữa tháng 3 vừa qua, Chứng khoán Sao Việt đã trình công văn lên Trung tâm Lưu ký Việt Nam về việc chuyển số dư chứng khoán sở hữu của từng khách hàng sang Công ty Chứng khoán FPT (FPTS) trong thời gian tới.

Một số công ty gặp biến cố trên thị trường trong thời gian qua còn có Chứng khoán An Phát, Chứng khoán Liên Việt tự nguyện xin chấm dứt tư cách thành viên tại hai sở giao dịch. Trong đó, Chứng khoán Liên Việt lỗ liên tiếp 2 năm gần đây, còn Chứng khoán An Phát cũng chỉ lãi 412 triệu đồng trong năm 2012. Trước đó An Phát đã lỗ 38,7 tỷ đồng năm 2011, doanh thu 2012 cũng giảm một nửa so với cùng kỳ năm trước.

Chứng khoán Dầu Khí lại chọn cách đóng cửa hàng loạt chi nhánh trong năm 2012 để cứu vãn tình hình sau khi lỗ tới hơn 93 tỷ đồng năm 2011. Nhờ vậy, dù doanh thu giảm, năm qua công ty vẫn vớt vát lại phần lợi nhuận sau thuế gần 817 triệu đồng, đồng thời cổ phiếu cũng thoát diện cảnh báo.

Từng nằm trong top 5 công ty có thị phần môi giới lớn trên thị trường chứng khoán, nhưng 2 năm trở lại đây Chứng khoán SBS liên tục lỗ. Căn cứ báo cáo tài chính kiểm toán hợp nhất năm 2012 của Chứng khoán SBS, công ty có lỗ lũy kế đến ngày 31/12/2012 là 1.767 tỷ đồng, vượt quá vốn điều lệ thực góp là 1.266 tỷ đồng. Doanh nghiệp rơi vào khủng hoảng toàn diện và đứng trước nguy cơ giải thể, phá sản.

Ngày 25/3, cổ phiếu SBS của công ty đã bị hủy niêm yết bắt buộc. Trong buổi họp đại hội cổ đông ngày 26/2, công ty đã đưa ra đề án tái cấu trúc công ty và được đại hội cổ đông thông qua. Tuy nhiên, Chủ tịch Hội đồng quản trị Kiều Hữu Dũng thành thật chia sẻ việc đưa doanh nghiệp trở về thời kỳ hoàng kim như những năm trước là điều rất khó.

Ông Lý Thanh Nhã, Giám đốc chi nhánh Chợ Lớn, Công ty chứng khoán Đông Á cho rằng hiện nay số lượng công ty chứng khoán quá nhiều so với nhu cầu thị trường. Đối với những đơn vị nhỏ, không có ngân hàng hay tổ chức, công ty mẹ chống lưng về tài chính có thể sẽ rơi rụng trong thời gian tới.

“Năm 2013, theo đánh giá cá nhân tôi, ngành này còn tiếp tục thu hẹp về số lượng công ty vì tính thanh khoản của thị trường không đủ sức nuôi sống số đông thành viên”, ông Nhã chia sẻ

Cũng theo ông Nhã, hiện các công ty chứng khoán sống được là nhờ phí môi giới và sự gia tăng ở mảng vay ký quỹ. Tuy nhiên, miếng bánh môi giới quá nhỏ, chỉ tập trung vào một số công ty chứng khoán có tiếng, số còn lại không đủ để chia phần. Các nghiệp vụ khác mang lại lợi nhuận như tự doanh dường như thiếu cơ hội. Trong khi đó, tín hiệu khả quan về hợp đồng liên quan đến phát hành thêm cũng rất ít.

“Cho nên, các công ty chứng khoán nhỏ không cầm cự nổi có thể sẽ sáp nhập, chuyển đổi hoặc bị xóa sổ”, ông Nhã đánh giá.

Trong năm 2012, hoạt động tự doanh là èo uột nhất. Nguyên nhân là giá cổ phiếu điều chỉnh giảm sâu, nhiều công ty chứng khoán “ôm” những cổ phiếu thuộc ngành ngân hàng, bất động sản phải chịu lỗ. Năm qua cũng chỉ có thời điểm đầu năm thị trường còn xuất hiện nhiều đợt sóng. Từ tháng 5 trở đi, hàng loạt thông tin xấu như bầu Kiên bị bắt, nợ xấu ngân hàng đã làm khối tự doanh gặp nhiều khó khăn hơn trong việc tìm kiếm lợi nhuận, ông Nhã chia sẻ.

Chủ tịch một công ty chứng khoán từng có thời lọt vào top 10 thị phần môi giới cũng nhận định kinh doanh chứng khoán nhìn chung là con đường đấu tranh mạnh, “ông” nào không có thị phần lớn sẽ không đủ khả năng duy trì do giá trị giao dịch thấp. Ngoài ra, vị chủ tịch này cũng khẳng định: “Trên thị trường hiện chỉ khoảng 20 công ty đứng đầu bảng còn có khả năng sống sót, phần còn lại hầu hết phải chạy sang các mảng khác như tự doanh hay tư vấn may ra mới đủ sức tồn tại, còn để cạnh tranh về môi giới thì phải thực sự có chiến lược tốt”.

Ông Vũ Bằng, Chủ tịch Ủy ban chứng khoán Nhà nước khẳng định 2012 là năm khó khăn nhất của các công ty chứng khoán từ trước tới nay. Thua lỗ là do doanh nghiệp có chiến lược không đúng, nhiều đơn vị còn mắc nhiều sai phạm dẫn tới thua lỗ phá sản.

Đánh giá về thị trường trong thời gian gần đây, ông Bằng cho biết từ cuối năm 2012 đã xuất hiện dấu hiệu hồi phục. Tuy nhiên, các công ty lỗ từ nhiều năm trước vẫn chưa thể khắc phục ngay được. Để chất lượng doanh nghiệp nâng cao, theo ông Bằng, Ủy ban đã siết chặt hơn về chỉ tiêu an toàn tài chính, đưa vào quy trình quản trị rủi ro theo tiêu chuẩn quốc tế, cảnh báo sớm cho doanh nghiệp.

Quy chế về liên thông vốn trong ngân hàng cũng có sửa đổi, ngoài ra chỉ tiêu trong việc đầu tư bất động sản cũng được kiểm soát hơn. Tuy nhiên, ông Bằng nhấn mạnh, bản thân phía ngân hàng cũng phải tự có biện pháp riêng để quản lý những trường hợp nhà đầu tư xin vay và không đáp ứng đủ thủ tục nhưng vẫn được chấp thuận.

Trong thời kỳ lãi suất trần và lãi suất ngoài chênh nhau, nhiều cán bộ ngân hàng, chứng khoán lợi dụng để tư lợi cá nhân. Thực tế, họ cầm cố nhưng họ lại không có sản phẩm, đến khi thua lỗ mới lộ diện vỡ nợ. Có thời kỳ, kích cầu nới lỏng việc cho vay, nhiều công ty chuyển phần tiền đi vay sang kinh doanh bất động sản, đến lúc lạm phát tăng cao, tiền vay không trả được bất động sản rớt xuống, khiến chứng khoán cũng lao dốc theo.

Tường Vi – Hồng Châu

Alan Phan – thư gửi hiệp hội Bất động sản

“Mặt trời trong tôi lặn để bình minh lại đến…My sun sets to rise again” – Robert Browning

Kính thưa Quý Vị

Dù chỉ mới nhận được 15 câu hỏi alanphan“chất vấn” của Quý Vị qua báo chí, tôi cũng xin phản hồi sớm vì sự mong đợi của rất nhiều đọc giả; cũng như để tỏ lòng tôn kính với “1,000 (?) đồng nghiệp” của tôi. Tôi cũng đã từng làm một nhà đầu tư dự án BDS (real estate developer) ở tận xứ Mỹ xa xôi vào cuối thập niên 1970’s. Sau 7 năm huy hoàng với lợi nhuận, tôi và các đối tác đã trắng tay trả lại mọi vốn và lời trong dự án lớn ở Arizona vào năm 1982. Do đó, tôi khá đồng cảm với trải nghiệm “của thiên trả địa” hiện tại của Quý Vị.

Tôi không quen bị “chất vấn”, không phải là một cậu học trò phải thi trắc nghiệm, cũng không có “quyền lợi” hay “nghĩa vụ” gì trong tình huống này, nên xin phép được trả lời các bậc đàn anh theo phong cách của mình. Vả lại, những chi tiết nhỏ nhặt của 15 câu hỏi đã được “trả lời” qua các bài viết của tôi trong vài năm qua (còn lưu lại tại www.gocnhinalan.com). Thêm vào đó, nhiều BCA (bạn của Alan) cũng đã ra công sức phản biện qua các lời bình trên trang web này và các mạng truyền thông khác. Quý Vị tự tìm tòi nhé.

Cốt lõi của vấn đề

Một khuynh hướng chung khi tìm giải pháp cho vấn nạn BDS hiện nay của Việt Nam là đóng khung bài toán trong các công thức tài chánh. Vài doanh nghiệp BDS nhờ tôi tư vấn tìm vốn vì họ nói không thể tiếp cận được các nguồn tài trợ. Câu trả lời của tôi là vấn đề BDS thuộc chuyện thị trường.

Vốn trong dân tại Việt Nam được các nhà chuyên gia nước ngoài ước tính vào khoảng 60 tỷ US dollars; và vốn từ Việt kiều và các nhà đầu tư ngoại có thể lên thêm khoảng 20 tỷ (các số liệu này có thể sai nhưng chúng ta sẽ không bao giờ tìm được một thống kê chính xác và chính thống về các con số nhậy cảm ở Việt Nam). Tuy nhiên, dù với con số nào, số tiền này cũng thừa đủ để giải quyết mọi hàng BDS tồn kho.

Trên góc cạnh thị trường, khi người bán đáp ứng được nhu cầu người mua về sản phẩm và dịch vụ (gồm nhiều yếu tố, nhưng quan trọng nhất là giá cả và chất lượng) thì giao dịch xẩy ra. Do đó, câu hỏi cốt lõi là những BDS mà quý vị đã và đang sản xuất có mức giá và chất lượng theo đúng nhu cầu của người tiêu dùng chưa? Theo tôi biết, nhu cầu về phân khúc nhà cho người thu nhập thấp rất cao; nhưng sản phẩm gần như quá ít. Trong khi đó, nguồn cung cầu tại phân khúc nhà cao cấp lại mất cân bằng và lượng tồn kho có thể phải mất 10 năm mới tiêu thụ hết.

Tóm lại, khủng hoảng BDS hiện nay là một tính toán sai lầm của nhà sản xuất BDS về giá cả và loại hàng.

Giá thành quá cao?

Nhiều người trong Quý Vị biện bạch là giá BDS cao ngất trời vì giá đất, giá nguyên vật liệu, chi phí hành chánh và bôi trơn…quá cao. Thật tình, lý giải này chỉ chứng tỏ tính chất làm ăn thiếu hiệu quả vì không biết những tính toán căn bản về đầu tư cho dự án; cũng như cho thấy yếu kém của các quyết định bầy đàn và chụp giựt.

Nhưng đôi khi, tình thế ngoại vi cũng có thể làm sai trật mọi tính toán. Chẳng hạn khi tôi bắt đầu dự án Arizona nói trên vào 1979, chúng tôi đã không ngờ là lãi suất lên đến 16-18% mỗi năm khi hoàn tất, thay vì 8-9% như dự tính. Giá nhà vẫn hợp lý, nhưng phần lớn người Mỹ mua nhà bằng tín dụng, nên dự án phải phá sản. Dù không phải lỗi của chủ quan, nhưng chúng tôi hiểu rõ luật chơi của thị trường và cúi đầu chấp nhận.

Người mua nhà, hay ngay cả vợ con bạn bè của Quý Vị, thật sự không quan tâm đến lý do tại sao giá nhà lại cao hay thấp thế này? Vừa mua thuận bán thôi.

Một chút lịch sử

Dĩ nhiên, tất cả bàn luận trên đây dựa trên quy luật thị trường. Nhiều bạn sẽ nói là nền kinh tế chúng ta có “định hướng xã hội” nên chánh phủ phải nhẩy vào can thiệp hay cứu trợ khi “con cái” gặp hoạn nạn.

Chắc Quý Vị còn nhớ, có khi giá nhà đất lên cao cả mấy trăm phần trăm mỗi năm vào thập kỷ 1995-2006, không ai kiến nghị chánh phủ phải can thiệp để cứu người tiêu dùng bằng cách ngăn chận mọi sự tăng giá (nhiều khi phi pháp). Các nhà sản xuất BDS quên mất “định hướng xã hội” của Viêt Nam và ủng hộ triệt để nguyên lý thị trường.

Bây giờ, vào nửa hiệp sau của trận bóng, các cầu thủ lại yêu cầu trọng tài áp dụng một luật chơi mới? Tính bất nhất này làm mọi biện luận của Quý Vị trở nên ngây ngô cùng ngạo mạn.

Hệ quả khi bong bóng BDS nổ

Trước hết, khi nói về hệ quả, tôi xin mọi người ghi nhận công trạng của những nhà đầu cơ BDS trong việc tạo ra khủng hoảng hiện nay. Tất cả những suy thoái, trì trệ và việc kém hiệu quả trong các đầu tư để công nghiệp hóa hay gia tăng sản lượng nông, hải , sản…đều có thể truy nguồn đến những bong bóng tài chánh như BDS, chứng khoán và ngân hàng.

Khi dòng tiền tấp nập chảy về lãnh vực này để hưởng lợi nhuận dễ dàng và nhanh chóng, chúng ta đã hy sinh những đầu tư xã hội cần thiết và dài hạn như y tế, giáo dục, công nghệ cao, nông nghiệp…Tai hại của sự lãng phí và tham ô trong việc sử dụng tài lực quốc gia này sẽ làm cả dân tộc trả giá trong nhiều thập kỷ sắp đến.
Nếu nhìn từ định hướng CNXH, các doanh nhân và quan chức có liên hệ đến việc đầu cơ, thao túng và lèo lái dòng tiền đầu tư…để thổi phồng các bong bóng tài sản đều có thể bị kết tội dưới nhiều luật lệ.

Hú hồn. May mà Quý Vị còn chữ “kinh tế thị trường” để mà núp bóng.
Ngoài ra, về các hệ quả tương lai khi bong bóng BDS nổ, Quý vị đã tự đặt cho mình một vị trí quá quan trọng trong nền kinh tế chung. Dĩ nhiên có thể hơn 50% các doanh nghiệp kinh doanh BDS và vật liệu xây dựng cũng như 50% các ngân hàng nhỏ yếu sẽ chết vì nợ xấu…nhưng tôi chắc chắn là “không có Mợ thì chợ vẫn đông”. Thực ra, những doanh nghiệp, ngân hàng…này cũng đã chết lâm sàng rồi. Họ kéo dài hơi thở để đợi chút oxygen từ tiền thuế và phí của người dân. Hiện tại, họ không đóng góp chút gì cho sản lượng quốc gia trong khi tiếm dụng một phần nguồn lực không nhỏ.

Về các doanh nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng, một số lớn đã ngất ngư vì không thể cạnh tranh với sản phẩm của Trung Quốc, Thái Lan…tại sân nhà hay sân người. Đổ lỗi cho tình hình BDS chỉ là một thủ thuật phát sinh từ thói quen lười biếng.

Con ngáo ộp thứ hai Quý Vị đem ra hù dọa là con số vài chục ngàn trong số 53 triệu công nhân toàn quốc (với tỷ lệ thất nghiệp khoảng 2.2% theo thống kê nhà nước) sẽ bị ảnh hưởng khi bong bóng BDS nổ tung. Nếu nền kinh tế chúng ta phát triển bền vững và bài bản, sự tạo ra việc làm cho các công nhân này chỉ là chuyện nhỏ.

Con ngáo ộp thứ ba của Quý vị là các người dân bỏ tiền trong các ngân hàng sẽ chịu mất mát khi vài ngân hàng đóng cửa. Theo tôi hiểu, mỗi tài khoản hiện nay được bảo hiểm đến 50 triệu VND và đang được NHNN đề xuất lên 100 triệu VND (vì lạm phát nhiều năm qua). Tỷ lệ mất mát cho những tài khoản trên 100 triệu VND tại các ngân hàng sẽ rất nhỏ; vì các nhà đa triệu phú thường không ngu để mất tiền như Quý Vị tiên đoán. Họ có nhiều giải pháp sáng tạo hơn Quý Vị và nhà nước nhiều.

Những hệ quả tích cực

Trong bài “Thị trường sẽ cứu chúng ta” (www.gocnhinalan.com) tôi đã ghi nhận 5 hệ quả tích cực hơn khi bong bóng BDS nổ. Đó là số lượng vài trăm ngàn gia đình lần đầu sở hữu một căn nhà vừa túi tiền, hiện tượng tâm lý “an cư lạc nghiệp” tạo cú kích cầu tiêu dùng, gây lại niềm tin cho kinh tế, loại bỏ các thành phần phi sản xuất yếu kém, tăng thu ngân sách và thu hút đầu tư nội ngoại.

Trong đó, quan trọng nhất là việc tạo một tầng lớp trung lưu mới, hết sức cần thiết cho mọi sự phát triển bền vững. Nhìn qua các xã hội đã mở mang tại Âu Mỹ Nhật Úc, tầng lớp trung lưu với những tài sản thâu góp được thường là đầu tàu cho chiếc xe kinh tế. Họ tạo ra thị trường tiêu dùng lớn nhất, họ đóng thuế nhiều nhất, họ làm việc cần cù nhất, họ nợ nhiều nhất (tốt cho ngân hàng và các ông chủ), họ có niềm tin cao nhất vào đất nước …vì họ có quá nhiều thứ để mất. Một xã hội bất ổn là khi phần lớn người dân không có gì để mất.

Hệ quả khi bong bóng không nổ

Tôi thì lại lo sợ về những hệ quả trái ngược nếu quyền lực của Quý vị thành công và thuyết phục nhà nước bơm tiền dân cứu Quý Vị và các ngân hàng yếu kém.

Trước hết, nền kinh tế zombies (xác chết biết đi) này sẽ kéo dài ít nhất là một thập kỷ nữa.

Khi phải in tiền đủ để cứu trợ, nạn lạm phát sẽ bùng nổ lại và tỷ giá VND sẽ rơi. Nhiều người đã quay qua Mỹ quan sát về các gói cứu trợ ngân hàng tư và đề nghị NHNN dùng giải pháp này cho Việt Nam. Một ghi chú nhỏ: chánh phủ Mỹ cho các ngân hàng này vay vốn với lãi suất cực rẻ; nhưng không cứu các doanh nghiệp hay giá BDS; và sau khi gây lại vốn sở hữu bị mất trong cuộc khủng hoảng tài chánh 2008, hầu hết các ngân hàng đã trả tiền lại cho chánh phủ. Giải pháp này không thể thực hiện ở Việt Nam vì các ngân hàng thương mại Việt không đủ uy tín, thương hiệu, tầm cỡ, tính minh bạch hay khả năng quản trị để tiếp cận nguồn vốn nội hay ngoại (vẫn rất dồi dào).
Chánh phủ hiện đã bội chi vì các vấn đề kinh tế xã hội từ khủng hoảng và nguồn thu từ thuế và phí đang bị thu hẹp đáng kể. Dùng những tài lực hiếm hoi để nuôi các zombies phi sản xuất là kéo dài cuộc suy thoái cho các thành phần khác trong nền kinh tế.

Nhưng tệ hại nhất là khi tung tiền cứu nguy cho “bồ nhà”, chánh phủ sẽ gởi một thông điệp bào mòn mọi niềm tin còn sót lại của các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Đó là: “mọi sai phạm lầm lẫn sẽ được che đậy và bảo vệ; và các quy luật của thị trường có quyền đi “nghỉ mát” khi quyền lợi của các nhóm lợi ích bị xâm phạm”.

Những giải pháp sáng tạo

Sau cùng, nếu con phượng hoàng có thể bay lên từ đống tro tàn thì các zombies cũng có thể tái tạo lại một đời sống mới. Trong nền kinh tế trí thức toàn cầu này, sáng tạo vẫn là một điều kiện tiên quyết cho mọi doanh nghiệp.

Tôi không kinh doanh BDS từ năm 1982, nên tôi không dám “múa rìu qua mắt thợ”. Nhưng tôi nhận thấy có những đại gia “thật lớn” của BDS đã phát triển mạnh trong khủng hoàng này. Bầu Đức của HAGL chọn giải pháp “xuất ngoại” khi bán tháo BDS tại Việt Nam và đem tiền đổ vào Lào và Myanmar. Ngài Vượng của Vincom đạt được danh tỷ phú đô la với phân khúc trung tâm thương mại cao cấp trong thời bão táp. Mr. Quang của Nam Long thì thành công với vốn ngoại và mô hình EHome cho phân khúc trung lưu. Các trường hợp phát triển như anh Thìn Đất Xanh hay anh Đực Đất Lành là những thí dụ khác.

Trong lãnh vực vật liệu xây dựng, sản phẩm nhà tiền chế theo dây chuyền hay các vật liệu từ công nghệ cao và xanh đã biến nhiều doanh nhân thế giới thành tỷ phú. Trí tuệ Việt chắc chắn phải có rất nhiều…Ngô Bảo Châu…trong ngành BDS. Đây là tương lai của BDS Việt trong mong đợi của mọi người; không phải hình ảnh của các zombies níu kéo vào dây trợ sinh trên giường bệnh.

Thay cho lời kết

Tôi thực sự khâm phục khả năng lobby của Hiệp Hội BDS và các thành viên. Tạo được một bong bóng khiến giá trị BDS lên đến 25 lần thu nhập trung bình của người dân là một thành tích đáng ghi vào kỷ lục Guinness. Tôi cũng tiên đoán là chánh phủ rồi cũng sẽ tung nhiều gói cứu trợ BDS mặc cho sự can gián của nhiều chuyên gia và đa số người dân. So với Quý Vị, tiếng nói của chúng tôi không đủ trọng lượng để chánh phủ lưu tâm.

Do đó, cuộc tranh cãi nên dừng lại ở đây để những người dân chưa có nhà không nên kỳ vọng vào một phép lạ trong tương lai gần.
Nhưng trong sâu thẳm, tôi vẫn mang nhiều hy vọng. Có thể một lúc nào đó, những tinh hoa của đất Việt sẽ quên đi quyền lợi cá nhân của mình và gia đình…để san sẻ lại cho các người dân kém may mắn hơn. Không phải để làm từ thiện, mà nhận trách nhiệm rộng lớn hơn với cộng đồng, và với thế đứng của Việt Nam trên thương trường quốc tế. Để doanh nhân Việt được tự hào với tư duy sáng tạo cởi mở và khả năng vượt khó bền bỉ. Để thế hệ sau còn có chút niềm tin và lực đẩy khi họ phải ra biển lớn cạnh tranh.

Riêng đối với những vị đã mất mát tài sản vì sai phạm đầu tư, tôi xin chia sẻ nơi đây câu thơ của tiền nhân mà tôi tự an ủi mình sau khi ký giấy trao lại cho ngân hàng toàn bộ dự án Arizona và ra đi với bàn tay trắng,” Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu…Gặp thời thế thế thì phải thế”. Dù sao, chỉ 3 năm sau đó, tôi lại kiếm được nhiều tiền hơn trong một mô hình kinh doanh khác.
Mong Quý vị mọi điều may mắn và mong tinh thần “kẻ sĩ” mãi cháy sáng trong cuộc đời Quý vị.

Thân ái,

Alan Phan

Mekong Capital bán 6,7% tại Thế giới Di động: Thu lời gấp 11 lần vốn ban đầu

indexSau giao dịch, tỷ lệ sở hữu của Quỹ tại Công ty Thế Giới Di Động giảm từ 32.5% xuống còn 25.8%.

Ngày 20/3/2013, Mekong Capital công bố Quỹ Mekong Enterprise Fund II đã hoàn tất việc thoái vốn một phần khoản đầu tư vào Công ty Cổ phần Thế Giới Di Động, chuỗi bán lẻ điện thoại di động hàng đầu tại Việt Nam, cho một công ty đầu tư tài chính.

Theo Mekong Capital, thu nhập từ số cổ phần vừa bán (cộng với cổ tức đã nhận) đạt gấp 11 lần so với khoản đầu tư ban đầu của Quỹ vào năm 2007. Sau giao dịch, tỷ lệ sở hữu của Quỹ tại Công ty Thế Giới Di Động giảm từ 32.5% xuống còn 25.8%.

Ông Chris Freund, Tổng Giám Đốc của Mekong Capital và là Thành viên HĐQT của Thế Giới Di Động cho biết “Thành công to lớn và tốc độ phát triển vượt bậc của Thế Giới Di Động kể từ khi chúng tôi đầu tư vào năm 2007 phần lớn nhờ vào sự năng động và cởi mở của 5 sáng lập viên trong việc tìm kiếm và triển khai những thông lệ tốt nhất cũng như đầu tư vào phát triển một đội ngũ quản lý giỏi.

Thế Giới Di Động là một kiểu mẫu trong khối kinh tế tư nhân của Việt Nam về việc dám nghĩ dám làm”.

Mekong Capital hiện đầu tư vào CTCP Cổng Vàng với chuỗi các nhà hàng Ashima, Kichi Kichi, Sumo BBQ, Ba Con Cừu…Công ty này đạt mức tăng trưởng cộng dồn hàng năm của doanh thu là 45% từ năm 2008 đến năm 2012.

Ngoài ra Mekong Capital cũng đầu tư vào công ty vàng bạc đá quý Phú Nhuận PNJ, CTCP Thế giới số, tập đoàn FPT, Bảo vệ thực vật An Giang, Traphaco, …

HĐQT của Thế Giới Di Động cũng thông báo việc chỉ định ông Robert Willett vào chức vụ Thành viên Độc lập, đóng góp chuyên môn cho các chiến lược phát triển của Thế Giới Di Động.

Ông Willett hiện là Chủ tịch Công ty MetaPack tại Châu Âu, Thành viên HĐQT Công ty LightHaus Logic tại Canada và Thành viên HĐQT Công ty Occa Home tại Châu Âu.

Ông Willett cũng là cố vấn cho Sabanci Holdings, công ty mẹ của Teknosa, công ty bán lẻ điện máy hàng đầu tại Thổ Nhĩ Kỳ. Ông Willett trước đây từng là Tổng Giám Đốc của Công ty BestBuy International, nơi ông đã phát triển thành công mảng bán lẻ điện thoại di động của BestBuy tại Mỹ.

Ông cũng là người chịu trách nhiệm về thương vụ BestBuy thâu tóm Carphone Warehouse, công ty bán lẻ điện thoại di động lớn nhất tại Châu Âu, và giữ vai trò Chủ tịch cho tới khi nghỉ hưu vào tháng 1/2010.

(Theo CafeF/ TTVN)

Ly cà phê đắng – Tonkin

TONKIN CoffeeTonkin Coffee đã tự pha cho mình ly cà phê đắng ngắt qua việc vội vã nhân rộng chuỗi quán cà phê bán kèm đồ ăn và vay nợ quá nhiều.

Ít khi nào các tín đồ cà phê ở Hà Nội lại được phen xôn xao bàn tán như những ngày đầu tháng 3 vừa rồi. “Ngồi số 4″ với không ít giới trẻ Thủ đô đã trở thành câu cửa miệng mỗi buổi sáng và quán cà phê Tonkin “số 4″ Lý Thường Kiệt đã là điểm hẹn ưa thích từ nhiều năm nay của họ.

Vậy mà anh Vũ, một tín đồ của “số 4″, rất bất ngờ khi đến quán cà phê ruột một buổi sáng hửng nắng đầu tháng 3, nhưng quán đóng cửa. Không có thông báo.

Chạy qua các quán Tonkin khác trong cùng chuỗi tại số 39A Lý Thường Kiệt, 36 Quang Trung và 33 Lê Đại Hành, anh Vũ còn “choáng” hơn khi tất cả đều không một bóng người. Nằm chình ình trước cửa quán là những chiếc xe ba bánh.

Chiều ngày 5/3, theo quan sát của phóng viên, chỉ có quán lớn nhất trong hệ thống Tonkin Coffee tại 12A Hai Bà Trưng là phục vụ bình thường. Sự việc này khiến diễn đàn trên mạng Otofun mở hẳn một chủ đề bình luận. Google Search cho ra 36.400 kết quả với từ khóa “Chuỗi quán cà phê Tonkin đóng cửa”.

Đến 6/3, các quán trên mới trở lại hoạt động. Điều gì đã xảy ra?

Chiếc bẫy: mở rộng chuỗi
Công ty TNHH Trà và Cà phê Bắc Bộ – chủ sở hữu thương hiệu và chuỗi quán Tonkin Coffee – được thành lập năm 1997. Công ty có vốn điều lệ 5 tỷ đồng, trong đó bà Nga làm Chủ tịch Hội đồng quản trị, nắm giữ 80% cổ phần và ông Bùi Ngọc Hà, Phó Giám đốc (chồng bà Nga) nắm 20% cổ phần còn lại.

Xuất phát điểm là một quán cà phê nhỏ hoạt động theo mô hình gia đình, dần dà nhờ cà phê khá đậm đà, quán được bài trí khá tinh tế, có “gout” riêng, nên vào thời hoàng kim của mình, Tonkin Coffee đã nhân rộng lên tới 8 quán. Đó là các địa điểm số 4, 39A và 87 Lý Thường Kiệt, 8 xóm Hà Hồi, 1 và 12A Hai Bà Trưng, 33 Lê Đại Hành và 36 Quang Trung.

Ông Hà, trong cuộc nói chuyện với chúng tôi tự nhận ông là người gây dựng thương hiệu công ty, chịu trách nhiệm về quy trình pha chế, rang xay cà phê. Hồi đầu Tonkin rang xay cà phê sống tại chỗ, nhưng sau này đã chuyển sang sử dụng cà phê pha sẵn vì khách ngày một đông.

Cà phê rang xay Tonkin được đóng trong những bao bì khá bắt mắt và bày bán trong một số siêu thị ở Hà Nội, ví dụ Intimex Hồ Gươm, bên cạnh những ly cà phê bán trong các quán thuộc chuỗi Tonkin.

Theo ông Bùi Ngọc Hà, ước tính giá trị thương hiệu Tonkin Coffee có giá khoảng 1 triệu USD, vì vào năm 2003 đã từng có công ty của Pháp tiến hành định giá thương hiệu Tonkin Coffee với giá này.

Thế nhưng, “vị đắng” trong ly cà phê Tonkin bắt đầu tăng lên khoảng từ cuối năm 2012, thay cho “vị ngọt” trước đó. Theo tiết lộ từ một nguồn tin, Công ty TNHH Trà và Cà phê Bắc Bộ đã đóng cửa các quán cà phê của họ tại số 8 xóm Hà Hồi và 87 Lý Thường Kiệt.

Cũng theo nguồn tin này, sau khi ngừng hoạt động mấy ngày, đến nay quán 87 Lý Thường Kiệt đã mở cửa lại, nhưng có khả năng đã đổi chủ. (Tuy nhiên, thông tin này chưa được kiểm chứng). Ngoài ra, quán Tonkin ở số 1 Hai Bà Trưng, vốn tọa lạc ở vị trí rất đẹp (nhìn sang khách sạn 5 sao Hilton Hà Nội, kế Nhà Hát Lớn) đã bị chủ nhà đòi lại mặt bằng.

Hiện tại, hệ thống Tonkin Coffee đã thu hẹp chuỗi quán xuống chỉ còn 5. Đó là quán 39A Lý Thường Kiệt, 4 Lý Thường Kiệt, 33 Lê Đại Hành, 12A Hai Bà Trưng (gần Tràng Tiền Plaza) và 36 Quang Trung.

Một trong những nguyên nhân chính khiến chuỗi quán cà phê có thương hiệu tốt ở Hà Nội (trước khi Highlands Coffee xuất hiện) lâm cảnh nguy khốn, là do chủ sở hữu mở rộng chuỗi quá nhanh trong thời gian ngắn.

Bẫy tăng trưởng được ngụy trang bằng sự đông khách của các quán nhỏ, tận dụng vỉa hè và được quản lý khá đơn giản đã sập xuống đầu Tonkin. Sai lầm đầu tiên là do họ vội vã phát triển thêm các cửa hàng mới tại 36 Quang Trung và 12A Hai Bà Trưng.

Khác với các quán đã và đang hoạt động tốt từ trước, hai quán mới đều tọa lạc ở mặt phố trung tâm Hà Nội, cùng có diện tích mặt bằng lớn vốn là hai tòa biệt thự kiểu Pháp được thuê lại. Một nguồn tin phỏng đoán, tính gộp tổng số vốn đầu tư cho riêng quán Tonkin 12A Hai Bà Trưng đã ngốn của ông bà chủ tới cả chục tỷ đồng, bao gồm tiền thuê mặt bằng trong vài năm cộng với tiền sửa chữa thiết kế lại căn biệt thự hai tầng này.

Sai lầm thứ hai đến từ tham vọng bán kèm đồ ăn ở các quán Tonkin ngoài đồ uống truyền thống như: cà phê các loại, trà, nước hoa quả, sinh tố, cacao… Bộ máy nhân sự và hệ thống quản lý của Tonkin bị hụt hơi so với tốc độ mở rộng chuỗi.

Một quán cà phê thuần túy ở Hà Nội như Tonkin thì việc bán thêm đồ ăn, dù là đồ ăn nhanh hay ăn sáng, nhưng phục vụ trong một không gian cà phê kiêm nhà hàng cao cấp hơn (quán 12A Hai Bà Trưng) trong khi nguồn lực hạn chế (trình độ quản lý, sự chuyên nghiệp của nhân viên, tay nghề đầu bếp, dòng tiền) là một thách thức cực lớn.

Một trong các hệ quả: vừa qua Tonkin đã phải tuyển dụng mới gần như toàn bộ nhân viên phục vụ tại Tonkin 12A Hai Bà Trưng do số nhân viên cũ đã nghỉ việc. Cần nói thêm, thái độ phục vụ của nhân viên nhiều quán Tonkin kém và vị cà phê cũng nhạt bớt so với trước.

Trong kinh doanh, đây là bài học kinh điển về lựa chọn chiến lược giữa mô hình tập trung và không tập trung. Người khổng lồ Coca-Cola trong quá khứ đã từng đánh mất sự tập trung bởi lấn sân sang lĩnh vực phim ảnh khi mua lại hãng phim Columbia Pictures năm 1982. Bị thua lỗ, Coca-Cola đã phải bán hãng phim cho Sony năm 1989 và ngày nay chỉ còn tập trung vào nước giải khát.

Chiếc bẫy: Vốn vay
Khi pha chế một ly cà phê cho khách, các nhà pha chế của Tonkin Coffee phải tính kỹ liều lượng để làm sao cà phê không quá ngọt, nhưng cũng không quá đắng. Trên thương trường, người chủ của Tonkin có vẻ quên mất nguyên tắc này.

Sai lầm lớn nhất của họ là đi vay vốn từ nhiều nguồn khác nhau để mở rộng chuỗi trong một thời gian ngắn. Không có con số chính xác, nhưng căn cứ vào số vốn đầu tư bỏ vào các quán mới thì số nợ của Tonkin không hề nhỏ.

Ông Hà tiết lộ với phóng viên, tổng chi phí thuê các mặt bằng kinh doanh hiện nay của chuỗi quán Tonkin là khoảng 1 tỷ đồng/tháng.

Chi phí nguyên liệu và hoạt động của các quán (trước khi mở rộng) khoảng 700-800 triệu đồng/tháng, còn tổng doanh thu của toàn hệ thống đạt 2,5 tỷ đồng/tháng.

Như vậy có thể tạm suy luận, mỗi tháng hệ thống này mang lại mức lợi nhuận khá cao cho chủ đầu tư. Số tiền này còn phải trích một phần để trả lương cho nhân viên, nhưng chắc chắn số lãi còn lại vẫn lớn.

Sở dĩ Tonkin lao đao bởi họ phát triển quá nóng, dẫn đến nguồn lực bị dàn trải và bị áp lực lớn bởi gánh nặng nợ nần. Thêm vào đó, có nguồn tin không chính thức cho rằng, chủ Tonkin còn mang tiền đi đầu tư bất động sản, trong đó có khả năng sử dụng cả nguồn vốn vay lãi suất cao bên ngoài. Nếu đúng vậy, đây có thể là lý do khiến các quán Tonkin bị phong tỏa bởi lực lượng xe ba bánh vừa qua?

Theo khảo sát của Công ty Nghiên cứu thị trường Mintel (Anh) về thị trường cà phê tại Việt Nam và các nước châu Á, Việt Nam là nước hàng đầu về cà phê “đích thực”, điển hình là cà phê xay hay cà phê nguyên hạt, ước tính chiếm khoảng 23% tất cả các sản phẩm mới trong cùng phân khúc được đưa ra thị trường tại châu Á trong vòng hai năm vừa qua.

Con số này cao gấp bốn lần so với quá trình phát triển sản phẩm mới ở Trung Quốc (ước khoảng 6%) trong cùng kỳ. Thông cáo từ Mintel chỉ ra, thị trường bán lẻ cà phê Việt Nam đã đạt 127,33 triệu USD trong năm 2008, tăng lên 287,34 triệu USD năm 2012 và dự đoán tăng lên 573,75 triệu USD vào năm 2016.

Về lượng tiêu thụ cà phê bình quân một đầu người một năm, Việt Nam đứng thứ tư trong số năm nước đứng đầu châu Á, với mức 1,15 kg. Dẫn đầu là Nhật Bản 2,90 kg và Hàn Quốc 2,42 kg.

Nếu kiên trì với ngành kinh doanh cốt lõi là cà phê và các loại thức uống, Tonkin Coffee hoàn toàn có thể nắm bắt cơ hội to lớn từ tiềm năng của thị trường trong nước – nơi họ chưa chinh phục thành phố lớn nhất nước là TP.HCM.

Tiếc rằng họ đã tự “pha” cho mình ly cà phê đắng ngắt qua việc vội vã nhân rộng chuỗi quán cà phê bán kèm đồ ăn và vay nợ quá nhiều. Đối mặt tin đồn vỡ nợ, phải bán cổ phần công ty hoặc thương hiệu, không hiểu người sáng lập chuỗi quán cà phê này có nhớ ly cà phê ngọt ngào khi xưa?

(Theo Doanh nhân)

Eximbank và Sacombank sáp nhập: Đúng kịch bản?

Hợp tác Eximbank SacombankNói về định hướng sáp nhập giữa Eximbank và Sacombank trong tương lai mà hai bên vừa công bố vào ngày 29/1, ông Phạm Hữu Phú, Chủ tịch HĐQT Sacombank cho biết tất cả đang diễn ra đúng kịch bản, đúng lộ trình mà Eximbank đề ra từ trước.

Mọi chuyện đang diễn ra đúng kịch bản

Ngày 29/1, tại buổi lễ ký kết thỏa thuận hợp tác, đại diện hai ngân hàng Sacombank và Eximbank đã chính thức công bố cùng báo chí về chủ trương sẽ hợp nhất và sáp nhập hai ngân hàng này trong thời gian tới. Tới lúc này, ông Phạm Hữu Phú, Chủ tịch HĐQT Sacombank đồng thời là đại diện vốn góp của Eximbank tại Sacombank chính thức thừa nhận tất cả mọi chuyện đều nằm trong kịch bản từ trước của Eximbank.

Ông Phú cho biết: “Tháng 6/2006, khi Việt Nam chuẩn bị gia nhập WTO thì lãnh đạo 3 ngân hàng ACB, Eximbank và Sacombank đã ngồi với nhau tính xem có nên hợp nhất hay không. Vì sau đó Nhà nước sẽ cho phép ngân hàng nước ngoài vào Việt Nam hoạt động, tình hình lúc đó buộc các ngân hàng phải cùng nhau để tồn tại. Ý tưởng này được lập lại khi mà HĐQT của Eximbank họp tại Đà Lạt (tháng 7/2011)”.

Và trong hội nghị này, các thành viên HĐQT Eximbank đã bàn với nhau và đi đến thống nhất việc mua 9,73% cổ phần của ngân hàng ANZ tại Sacombank. Ông Phú cho biết: “Trong việc quyết định mua lại 9,73% cồ phần của Sacombank thì anh Lê Hùng Dũng kết luận 2 vấn đề: Một là việc mua này là dùng để đầu tư, để tái cơ cấu danh mục đầu tư của Eximbank; Hai là nếu tình hình thuận tiện thì hai ngân hàng có thể hợp nhất. Và như chúng ta thấy việc này hoàn toàn diễn ra đúng theo kịch bản, đúng lộ trình”.

Kịch bản đó diễn ra khá thuận lợi khi Eximbank nhanh chóng tập hợp được số cổ đông đủ để chiếm quyền tuyệt đối tại Sacombank và làm cuộc “đổi chủ” thành công tại ngân hàng giàu truyền thống này vào năm 2012. Cổ đông sáng lập Đặng Văn Thành phải ra đi, nhường chỗ cho bộ sậu mới; trong đó, ông Phạm Hữu Phú, người đại diện cho vốn sở hữu của Eximbank tại Sacombank trở thành Chủ tịch HĐQT Sacombank.

Đến hôm nay, sau khi mọi sự đã thuận lợi, tiếng nói cấp cao ở cả 2 ngân hàng đã “đồng thanh”, định hướng sáp nhập đã được hai bên chính thức công bố trên tất cả các phương tiện truyền thông chứ không còn “đồn đoán” như cuối năm 2011 hay “mờ mờ, ảo ảo” như trong năm 2012.

Trong ngày ký kết thỏa thuận hợp tác giữa hai ngân hàng, nói về diễn tiến này, ông Lê Hùng Dũng, Chủ tịch HĐQT Eximbank cũng đã tự hào cho rằng: “Việc ký kết này là màn chào sân đầy ấn tượng của Eximbank và Sacombank đầu năm 2013 và có thể là vài năm tiếp theo. Đầu năm 2012 thì cũng có 1 màn rất ấn tượng của Eximbank và Sacombank với sự kiện Eximbank mua 9,73% của ANZ, sau đó trở thành đối tác lớn nhất của Sacombank. Và sau đó, ngày 20/2 (năm 2012 – PV), Eximbank đã có văn bản đề nghị có đại hội sớm dẫn đến thay đổi cơ bản thành phần HĐQT cho đến ngày hôm nay. Rồi từ đó dẫn đến sự kiện ngày hôm nay”.

Lộ trình sáp nhập còn dài

Tuy nhiên, việc hợp nhất và sáp nhập 2 định chế tài chính khổng lồ như Eximbank và Sacombank tại Việt Nam là không hề đơn giản, không phải chuyện ngày một ngày hai vì còn rất nhiều vấn đề liên quan đến quyền lợi, cơ chế hoạt động, tỷ lệ vốn góp… cần phải giải quyết.

Ông Lê Hùng Dũng cho biết: “Hai bên sẽ thuê một tổ chức tư vấn quốc tế độc lập làm luận chứng kinh tế kỹ thuật tiền khả thi. Sau khi có luận chứng kinh tế tiền khả thi sẽ đưa ra đại hội cổ đông hai bên để lấy ý kiến, hai bên sẽ có bổ sung, sửa đổi cho phù hợp. Nếu luận chứng này có tính khả thi thì hai bên sẽ đồng ý tiếp tục thuê tổ chức tư vấn độc lập đó làm luận chứng khả thi. Sau khi có luận chứng khả thi đó, chúng tôi sẽ thảo luận 1 lần nữa rồi trình cho các cơ quan chức năng là Ngân hàng Nhà nước chi nhánh TPHCM, nếu thuận lợi xong xuôi sẽ trình cho Ngân hàng Nhà nước. Nếu sau khi được cơ quan nhà nước chấp thuận thì vấn đề hết sức quan trọng của hai bên là phải trình cho đại hội cổ đông các nội dung chi tiết, các đề án, phương án… về lộ trình sáp nhập phải có. Đó là thời gian tương đối dài”

Ông Lê Hùng Dũng cũng cho biết quá trình này sẽ gặp rất nhiều khó khăn, nhiều vấn đề mà hai bên phải tìm tiếng nói chung. Chẳng hạn như sau khi hợp nhất sẽ dùng tên nào, tỷ lệ chuyển đổi thế nào, số lượng cổ đông có đồng ý hay không theo quy định của điều lệ từng bên và quy định chung của nhà nước…

Ông khẳng định: “Đó là những khó khăn chung mà trong quá trình lập luận chứng kinh tế tiền khả thi chúng tôi phải giải quyết. Nhưng chúng tôi tin rằng, nếu chúng ta có quyết tâm chính trị để sáp nhập thì quyền lợi của từng bên và vì quyền lợi của hai bên thì tôi nghĩ rằng vấn đề này sẽ giải quyết được”.

Tuy thế, ông Dũng cũng thận trọng cho rằng: “Đây là vấn đề nhạy cảm, nhiều vấn đề phức tạp nên chúng tôi cần thời gian từ 3 – 5 năm để có thể nghiên cứu việc hợp nhất và sáp nhập này”.

Cũng trong ngày 29/1, ông Lê Hùng Dũng khẳng định mọi chuyện liên quan đến Eximbank và Sacombank diễn ra từ năm 2011 đến nay đều rất công khai, minh bạch. Ngay như sự kiện Eximbank mua 9,73% cổ phần của ANZ tại Sacombank cũng phải được quan nhà nước chấp thuận bằng văn bản thì Eximbank mới tiến hành.

Còn về vấn đề ngân hàng Phương Nam có tham gia xu thế sáp nhập này hay không, ông Phạm Hữu Phú cho biết: “Hiện nay chưa có chương trình nghị sự để Phương Nam nhập vào Sacombank hay Phương Nam nhập vào Sacombank và Eximbank, hiện chúng tôi chưa có kế hoạch này”.

Tùng Nguyên

Doanh nghiệp Việt có thể học gì từ Starbucks

starbuck-vietnam-2_resizeNăm 1971, Starbucks chỉ là một quán cà phê nhỏ bé và khiêm nhường với chưa tới 10 nhân viên phục vụ. Năm 2013, Starbucks đã thực sự trở thành một đế chế gồm 18.000 cửa hàng với 200.000 nhân viên và khoảng 44 triệu cốc cà phê được bán ra hằng tuần.

Hành trình của Starbucks rất đáng được các doanh nghiệp Việt trong lĩnh vực ẩm thực phân tích kỹ lưỡng. Bởi hành trình đó có thể chỉ ra rất nhiều điều lý thú.

Sản phẩm ưu việt

Theo Bryant Simon, tác giả cuốn sách The Devil’s Cup thì dân Mỹ tiêu thụ khoảng 330 triệu cốc cà phê/ngày. Đây là thị trường tiềm năng nhưng trước khi có Starbucks, người Mỹ vẫn quen với thứ “nước pha đường có mùi cà phê” chỉ với mức giá 50 cent.

Starbucks đã thay đổi nhận thức của người dân Mỹ về cà phê. Công ty đã biết cách buộc người tiêu dùng bỏ ra 4 USD cho một ly Starbucks, một mức giá không rẻ so với chính người dân Mỹ. Khi ra đời, Starbucks có chất lượng vượt trội. Howard Schultz, CEO của Starbucks, mô tả lại: “Ngay khi bước vào trong quán, mùi hương cà phê thơm nức đã khiến tôi mê hoặc. Tôi cảm thấy đây như chính là ngôi nhà của mình. Người sáng lập Starbucks mời tôi một ly cà phê từ Indonesia và tôi lịm đi khi thưởng thức ly cà phê đó. Đó cũng là điều làm tôi thức tỉnh, trước đó chưa bao giờ tôi được uống một ly cà phê ngon”.

Sau này, khi mua lại Starbucks, Howard Schultz, người được mệnh danh là linh hồn của Starbucks, luôn cố gắng chăm chút, giữ gìn tính độc đáo của sản phẩm. Ông nhận thấy rằng tất cả chiêu thức marketing, những chiến dịch PR đều phải dựa trên nền tảng là sản phẩm ưu việt. Nếu bạn có thể tạo nên một sản phẩm ưu việt hơn những sản phẩm đang có trên thị trường. Bạn hoàn toàn có cơ hội thành công. Doanh nghiệp Việt muốn chống lại sự xâm lăng của những thương hiệu toàn cầu hay ấp ủ một giấc mơ chinh phạt toàn cầu? Điều đầu tiên và quan trọng nhất cần phải làm, đó là tính ưu việt vượt trội của sản phẩm.

Định vị hình ảnh

30 năm trước, hai nhà marketing lỗi lạc Al Ries và Jack Trout đã viết nên một quyển sách kinh điển về quản trị marketing có tên “Định vị – Positioning”. Al và Jack đã nhanh chóng nhận thấy trong một thị trường cạnh tranh, dần dần sản phẩm ưu việt hơn nhưng nếu không biết cách định vị mình sẽ không có nhiều cơ hội chiến thắng. Điều quan trọng mà doanh nghiệp cần làm đó là phải định vị mình và chiếm lĩnh lấy điểm định vị có giá trị nhất.

Starbucks sau khi ra đời và phát triển đã được định vị trong tâm trí của người tiêu dùng là một loại cà phê “đắt nhưng đáng giá”. Tuy nhiên, Howard Schultz, một chuyên gia marketing lỗi lạc, sau khi lãnh nhận vị trí CEO của Starbucks đã nhanh chóng định vị chuỗi quán Starbucks là “nơi chốn thứ ba”. Ông giải thích: “Có hai nơi con người dành nhiều thời gian sống trong đó nhất, đó là ngôi nhà và nơi làm việc. Starbucks là nơi chốn thứ ba, nơi mọi người đến có thể thư giãn, có thể làm việc một chút, có thể suy tưởng”. Định vị đó cho đến ngày hôm nay vẫn được Starbucks gia cố vững chắc và là nền tảng để Starbucks thu hút khách hàng.

Rất nhiều doanh nghiệp nước ta, đặc biệt là doanh nghiệp ẩm thực có những sản phẩm rất ngon, nổi tiếng nhưng không quan tâm đến chuyện định vị cho thương hiệu của mình. Đó là lý do “ẩm thực Việt Nam” trên tổng thể được khách nước ngoài không tiếc lời khen ngợi. Nhưng sự thực đáng buồn là chúng ta thiếu vắng những thương hiệu ẩm thực mạnh.

Thất bại để thành công

CEO Howard Schultz của Starbucks từng nói: “Rất nhiều công ty từng thành công lẫy lừng trong quá khứ. Giờ họ đã biến mất. Bởi họ không dám chấp nhận thất bại. Họ chỉ biết bám lấy quá khứ vinh quang”. Starbucks đã từng có thời gian rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Sau khi mua lại Starbucks từ những người sáng lập, Howard Schultz trở thành chủ tịch của Starbucks. Khi Starbucks niêm yết trên sàn chứng khoán, giá cổ phiếu tăng mạnh. Nhưng ngay khi mọi nhân viên và cổ đông của Starbucks đều vui mừng thì Howard Schultz đã sớm thấy việc theo đuổi lợi nhuận theo từng quý kiểu phố Wall sẽ tiềm tàng phá đi những giá trị cốt lõi của Starbucks.

Valentine năm 2007, Howard Schultz đã viết tâm thư gửi ban giám đốc của Starbucks, chỉ trích rằng Starbucks đã “đánh mất đi sự lãng mạn của cà phê, từ đó đánh mất đi linh hồn của chính mình”. Lá thư đó không hiểu sao đã bị rò rỉ và xuất hiện khắp nơi trên báo chí. Giá cổ phiếu Starbucks sụt giảm mạnh. Howard Schultz được mời trở lại về vị trí CEO của Starbucks. Nhưng hành động đầu tiên của Howard Schultz khiến cổ đông và giới truyền thông còn choáng váng hơn. Ông đã quyết định cho đóng cửa tất cả quán Starbucks trên khắp nước Mỹ để đào tạo lại nhân viên cách pha cà phê. Trong quãng thời gian đóng cửa để đào tạo nhân viên, Starbucks đã mất đi hơn 10 triệu USD doanh thu. Chưa kể các đối thủ cạnh tranh lập tức nhảy vào chế giễu, cho rằng: “Hóa ra Starbucks chưa đạt chất lượng chuẩn và phải đào tạo lại”.

Sau này, Howard Schultz đã chia sẻ về những quyết định gây tranh cãi của mình: “Tôi có những quyết định hoàn toàn dị biệt không phải bởi tôi là một kẻ kiêu ngạo. Đơn giản chỉ bởi tôi muốn nếu ta có sai lầm, vấp lỗi, điều quan trọng nhất là phải sửa lỗi và chỉnh sửa để mọi thứ tốt đẹp hơn. Tôi vẫn quyết định đóng cửa toàn bộ cửa hàng Starbucks tại Mỹ và đào tạo lại nhân viên bởi tôi muốn đem đến cho khách hàng một trải nghiệm thực sự hoàn hảo. Và nhiệm vụ là khách hàng sau đó chia sẻ trải nghiệm đó với những người khác. Đó mới là thứ cần được trân trọng chứ không phải giá cổ phiếu, báo cáo tài chính hằng tháng…”.

Do bản tính sĩ diện cao, người châu Á nói chung và người Việt nói riêng thường ít khi nhắc đến những thất bại của mình.

Nền tảng nhân sự

Howard Schultz chia sẻ khá thú vị: “Chúng tôi không cần tuyển những người có nhiều kinh nghiệm. Chúng tôi cũng không cần tuyển những người phải được đào tạo chính quy. Chúng tôi tuyển những người yêu thích công việc, yêu cà phê, thể hiện niềm đam mê với cà phê. Việc đào tạo kỹ năng là phần việc sau này”. Điều này rất đáng để cho các DN Việt học hỏi. Trong lĩnh vực ẩm thực, rất nhiều thương hiệu đi lên gắn liền với chữ “gia truyền”, hai chữ này có lợi thế là lịch sử lâu đời.

Nhưng điểm bất cập là rất nhiều chủ doanh nghiệp đó chỉ tin vào người trong gia đình, chỉ đưa những vị trí trọng yếu vào tay những người thân cận của mình khiến những người tài thực sự không tìm thấy đất phát triển, mất đi động lực cống hiến khiến doanh nghiệp không thể vươn mình phát triển mạnh mẽ được.

Người lãnh đạo là sức mạnh nổi trội

Câu chuyện bản thân của Howard Schultz, từ một cậu bé nghèo khổ giờ vươn lên trở thành một trong những doanh nhân quyền lực nhất thế giới luôn là nguồn động lực dành cho rất nhiều thanh niên. Những thương hiệu có được những hình tượng lãnh đạo cuốn hút sẽ dễ dàng tạo nên được sức mạnh nổi trội. Trong nước ta có hai thương hiệu chuỗi quán cà phê đáng chú ý là Highland Coffee và Trung Nguyên.

Xét về mặt sức cuốn hút cá nhân, câu chuyện khởi nghiệp và những triết lý, “nhân hiệu” của Đặng Lê Nguyên Vũ của Trung Nguyên mạnh hơn so với David Thái của Highland rất nhiều. Đó cũng là lợi thế của Trung Nguyên so với các đối thủ còn lại. Rất nhiều doanh nhân Việt ngại ngùng xuất hiện trước truyền thông, ngại ngùng kể ra những thất bại nhưng cũng ngại ngùng cả trong việc kể ra những thành công của mình.

Thực ra thương hiệu của doanh nghiệp và thương hiệu cá nhân của lãnh đạo doanh nghiệp có tính tương tác qua lại rất cao. Khi những doanh nhân Việt chú ý đến thương hiệu cá nhân của chính mình, biết sử dụng nó như là một công cụ để kích thích cho doanh nghiệp của chính mình, trở thành lãnh đạo tinh thần của doanh nghiệp, đó là khi sức mạnh của doanh nghiệp được nâng lên một tầm cao mới.

Khó có thể coi Starbucks là “người khổng lồ không có bản sắc”

Phát biểu trên báo chí, ông Đặng Lê Nguyên Vũ, Chủ tịch Trung Nguyên, có nói: “Starbucks chỉ là người khổng lồ không có bản sắc” do “Starbucks đã gỡ chữ Coffee trên logo của mình và bán tới 87.000 loại thức uống trong cửa hàng”. Nhận định của ông Vũ không sai nhưng cũng chưa thấu đáo.

Tôi cho rằng khi bỏ chữ Coffee ra khỏi logo Starbucks và Howard Schultz giải thích: “Starbucks sẽ bán những thứ khác mà không có cà phê trong đó”, đó là dấu hiệu cho thấy Starbucks đang trở nên quá tham lam và dần rời xa cốt lõi “cà phê” của mình.

Tuy nhiên, những động thái đó cho thấy Starbucks đang chú tâm hơn tới định vị: “Nơi chốn thứ ba” hơn là “cà phê” (đó là lý do Starbucks kinh doanh cả âm nhạc và bán rất nhiều loại thức uống không phải cà phê). Và nếu như vậy thì Starbucks vẫn đang tập trung vào củng cố bản sắc để giữ vững vị thế là “nơi chốn thứ ba” của mình. Vậy khó có thể coi Starbucks là “người khổng lồ không có bản sắc”.

(Theo Pháp luật TP HCM)

Tổng giám đốc Prudential bị giám sát chặt

CEO PrudentialHãng bảo hiểm lớn nhất nước Anh Prudential vừa bị phạt 30 triệu Bảng, tương đương 45,5 triệu USD, liên quan tới vụ chào mua bất thành AIA vào năm 2010. Tổng giám đốc Tidjane Thiam của Prudential cũng bị Cơ quan Giám sát tài chính Anh (FSA) đưa vào diện giám sát chặt.

Theo tin từ hãng BBC, FSA cho biết, nguyên nhân khiến Prudential bị phạt là hãng này đã không thông báo kế hoạch mua AIA và đã không “làm việc với FSA một cách cởi mở và hợp tác”. AIA là công ty con tại thị trường châu Á của tập đoàn bảo hiểm Mỹ AIG.

Năm 2010, Prudential nỗ lực mua lại AIA với giá 35,5 tỷ USD nhằm tăng thị phần tại châu Á, nhưng không thành công do vấp phải sự phản đối của các cổ đông. Thương vụ đổ bể khiến cổ đông Prudential thiệt hại 377 triệu USD.

Theo hãng tin Reuters, FSA cho rằng, nếu giao dịch thành công, quy mô của thỏa thuận nói trên có thể đã làm thay đổi địa vị tài chính, chiến lược và hồ sơ rủi ro của Prudential.

“Prudential đã không hợp tác với FSA một cách cởi mở và hợp tác khi tìm cách mua lại AIA vào năm 2010. Prudential đã không báo cáo thông tin đầy đủ cho FSA về thỏa thuận đề xuất cho tới khi thông tin bị rò rỉ cho báo giới vào hôm 27/2/2010”, FSA cho biết.

FSA cũng đánh giá rằng, thỏa thuận này có tiềm nằng gây ra những ảnh hưởng tính ổn định và niềm tin vào hệ thống tài chính của Anh và tại nước ngoài.

Trong một thông cáo, Chủ tịch Prudential Paul Manduca nói: “Chúng tôi mong muốn khép lại sự việc này và đảm bảo quan hệ có tính xây dựng với giới chức giám sát tài chính được duy trì tốt đẹp”.

“Ông Tidjane luôn hành động vì lợi ích của tập đoàn và hội đồng quản trị biết rõ công việc của ông”, thông cáo có đoạn viết.

17 tuổi kiếm triệu USD nhờ bán công ty cho Yahoo

Ứng dụng đọc tin tức Summly của Nick D’Aloisio vừa được Yahoo mua lại với giá gần 30 triệu USD. Cậu cũng trở thành nhân viên chính thức mảng di động của đại gia công nghệ này.

Nick D’Aloisio, một học sinh 17 tuổi tại Anh, vừa bán công ty của mình – Summly cho Yahoo! với giá gần 30 triệu USD, phần lớn bằng tiền mặt. Hai năm trước, D’Aloisio tạo ra một ứng dụng đọc tin tức cho iPhone có tên “Trimit”. Ứng dụng này sẽ lướt qua hàng loạt bài báo online, sau đó tóm tắt chúng thành một đoạn vừa với kích cỡ màn hình điện thoại.

Ban đầu, Trimit không được chú ý nhiều. Nhưng về sau, ứng dụng lọt vào tầm ngắm của tỷ phú Hong Kong – Li Ka Shing. Nhóm đầu tư của ông tại Horizons Ventures đã tài trợ cho D’Aloisio, giúp cậu nâng cấp ứng dụng và đổi tên thành Summly. Sản phẩm còn được quảng cáo bởi rất nhiều người nổi tiếng như Ashton Kucher, Stephen Fry và Yoko Ono.Nick_D_Aloisio

Sau nhiều tháng cặm cụi bên chiếc máy tính trong phòng riêng, D’Aloisio lại bay đi bay về giữa San Francisco, New York và châu Á. Cậu gặp Jony Ive – Phó giám đốc thiết kế của Apple tại studio của ông và còn được gọi là “cậu bé thần đồng” khi xuất hiện trên TV cùng người dẫn chương trình nổi tiếng Piers Morgan.

D’Aloisio đã gặp CEO Yahoo – Marissa Mayer tại hội nghị Digital-Life-Design ở Munich (Đức) hồi tháng 1/2012, khi cô còn làm việc tại Google. Cuối năm ngoái, hai người lại gặp nhau để bàn bạc về vấn đề Yahoo mua Summly.

D’Aloisio cho biết cậu rất ấn tượng vì sự nhiệt tình của Mayer “về điện thoại di động và các công nghệ tiên tiến”. Cả hai đều cho rằng Yahoo có thể tích hợp công nghệ tóm tắt và giao diện của Summly để đóng gói lại các nội dung sẵn có, như tin tài chính, thời tiết và chứng khoán, cho điện thoại. D’Aloisio được cho là đã ký hợp đồng với Giám đốc nhân sự của Yahoo – Jackie Reses.

Summly sẽ được gỡ ra khỏi App Store (Kho ứng dụng của Apple) và D’Aloisio cũng trở thành nhân viên chính thức của Yahoo. Cậu không có chức danh nào cả, mà chỉ làm việc cùng nhóm điện thoại của Yahoo ở Wimbledon, London (Anh). Tám tiếng làm việc, và sẽ chỉ được học vào buổi tối, nhưng D’Aloisio không cảm thấy phiền lòng.

Cậu cho biết: “Mayer rất tập trung vào quy mô. Đó là điều tôi thấy thích thú. Ban đầu, tôi chỉ có hàng trăm nghìn người dùng. Nhưng tại Yahoo, con số này sẽ là hàng triệu. Tôi không biết sau này ứng dụng của mình có dạng như thế nào nữa, nhưng tôi chắc chắn sẽ vẫn theo nó”.

D’Aloisio khẳng định sẽ vẫn học tập và đi làm bình thường. Dẫu vậy, cậu cũng băn khoăn liệu mình có phải theo chính sách cấm làm việc tại nhà của Yahoo hay không. Đã bảo lưu kết quả hơn một năm, D’Aloisio sẽ quay lại trường để hoàn tất 1,5 năm còn lại trước khi vào Đại học.

Giao dịch của cậu với Yahoo dự kiến hoàn tất vào quý II năm nay. Nhưng D’Aloisio chưa có kế hoạch tiêu tiền vào việc gì ngoài chiếc balo mới. Cậu cho biết: “Cặp của tôi đã rách mấy hôm nay rồi”.

“Trong tương lai, tôi chắc chắn sẽ lập thêm nhiều công ty khác. Hai năm tới, mọi việc có lẽ sẽ ít khó khăn hơn bây giờ. Đây là một chuyến đi kỳ thú, và tôi muốn làm lại lần nữa”, D’Aloisio nói.

Thùy Linh (theo Forbes)

CEO Disney hưởng lương cao nhất nước Mỹ

Tổng thu nhập của Robert Iger là hơn 37 triệu USD năm ngoái, theo sau là CEO Viacom – Philippe Dauman và eBay – John Donahoe.

Điều hành một doanh nghiệp là công việc đầy áp lực. Vì vậy, phần thưởng dành cho các CEO cũng rất tương xứng, đặc biệt khi thị trường chứng khoán đang tăng trưởng mạnh và các công ty dư thừa tiền mặt. Theo thống kê của USA Today, thu nhập trung bình của các CEO trong danh sách 500 công ty lớn nhất Mỹ đã tăng 9% năm ngoái.

Trong số này, 16 CEO có lương thưởng trên 20 triệu USD và hai người trên 30 triệu USD. Thu nhập của CEO eBay thậm chí còn cao hơn 81% so với năm ngoái.

1. Robert Iger – CEO Walt Disney

Tổng thu nhập năm 2012: 37,1 triệu USD

Giá trị quyền chọn cổ phiếu: 17,3 triệu USD

Thu nhập thay đổi so với 2011: +18%

Lợi nhuận cổ phiếu 2012: 73%

2. Philippe Dauman – CEO Tập đoàn truyền thông Viacom

Tổng thu nhập năm 2012: 33,4 triệu USD

Giá trị quyền chọn cổ phiếu: 18,1 triệu USD

Thu nhập thay đổi so với 2011: – 22%

Lợi nhuận cổ phiếu 2012: 41%

3. John Donahoe – CEO website đấu giá trực tuyến eBay

Tổng thu nhập năm 2012: 29,7 triệu USD

Giá trị quyền chọn cổ phiếu: 25,7 triệu USD

Thu nhập thay đổi so với 2011: + 81%

Lợi nhuận cổ phiếu 2012: 68%

4. Howard Schultz – CEO Starbucks

Tổng thu nhập năm 2012: 28,9 triệu USD

Giá trị quyền chọn cổ phiếu: 24,9 triệu USD

Thu nhập thay đổi so với 2011: +80%

Lợi nhuận cổ phiếu 2012: 38%

5. Stephen Chazen – CEO Hãng dầu khí Occidental Petroleum

Tổng thu nhập năm 2012: 28,52 triệu USD

Giá trị quyền chọn cổ phiếu: 17,79 triệu USD

Thu nhập thay đổi so với 2011: không có số liệu

Lợi nhuận cổ phiếu 2012: -16%

6. Kenneth Chenault – CEO Hãng thẻ tín dụng American Express

Tổng thu nhập năm 2012: 28,01 triệu USD

Giá trị quyền chọn cổ phiếu: 21,02 triệu USD

Thu nhập thay đổi so với 2011: +25%

Lợi nhuận cổ phiếu 2012: 22%

7. Edward Breen – CEO Outgoing Tyco International

Tổng thu nhập năm 2012: 23,9 triệu USD

Giá trị quyền chọn cổ phiếu: 12,2 triệu USD

Thu nhập thay đổi so với 2011: +45%

Lợi nhuận cổ phiếu 2012: 39%

8. Robert Stevens – CEO hãng sản xuất vũ khí Lockheed Martin

Tổng thu nhập năm 2012: 23,84 triệu USD

Giá trị quyền chọn cổ phiếu: 7,2 triệu USD

Thu nhập thay đổi so với 2011: +16%

Lợi nhuận cổ phiếu 2012: 19%

9. Richard Fairbank – CEO Ngân hàng Capital One

Tổng thu nhập năm 2012: 22,6 triệu USD

Giá trị quyền chọn cổ phiếu: 20,32 triệu USD

Thu nhập thay đổi so với 2011: +21%

Lợi nhuận cổ phiếu 2012: 37%

10. Louis Chênevert – CEO hãng thiết bị quân sự United Technologies

Tổng thu nhập năm 2012: 21,79 triệu USD

Giá trị quyền chọn cổ phiếu: 14,83 triệu USD

Thu nhập thay đổi so với 2011: – 5%

Lợi nhuận cổ phiếu 2012: 15%

Thùy Linh (theo USA Today)

Phạm Nhật Vượng vào top tỷ phú xuất sắc của Forbes

Không chỉ là tỷ phú đầu tiên của Việt Nam lọt vào danh sách do tạp chí Mỹ công bố, ông chủ của Vingroup còn là một trong 10 tỷ phú mới xuất sắc nhất năm qua.
1. Margarita Louis-Dreyfus
Tổng tài sản: 6 tỷ USD

Quốc tịch: Thụy Sĩ

Nguồn thu nhập: Kinh doanh hàng hóa

Margarita Louis-Dreyfus tiếp quản vị trí chủ tịch của công ty cổ phần Louis Dreyfus, sau khi chủ tịch cũ là chồng bà qua đời năm 2009. Là một phụ nữ Nga ở tuổi 50, Margarita đã hướng công ty tập trung trở lại vào nông sản, cũng như huy động 350 triệu USD từ phát hành trái phiếu tại Singapore. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử 160 năm, tập đoàn này huy động vốn trên thị trường tự do.

2. Renzo Rosso
Tổng tài sản: 3 tỷ USD

Quốc tịch: Italy

Nguồn thu nhập: Bán lẻ

Renzo Rosso đồng sáng lập hãng quần jeans Diesel 35 năm trước, ở tuổi 23. Từ đó, Diesel đã phát triển thành một thương hiệu phong cách sống với doanh thu 2 tỷ USD năm 2012. Thông qua một công ty cổ phẩn có tên Only The Brave, Rosso đã dành cả thập kỷ chiếm lĩnh cổ phần lớn trong các công ty thời trang nhỏ ở khắp châu Âu như Maison Martin Margiela tại Paris, Viktor & Rolf tại Amsterdam và gần đây nhất, vào tháng 12/2012 là Marni tại Milan.

3. Fernando Belmont
Tổng tài sản: 2,2 tỷ USD

Quốc tịch: Peru

Nguồn thu nhập: Mỹ phẩm

Là chủ nhân của Yanbal International, công ty mỹ phẩm tăng trưởng đột phá với doanh thu ước tính 720 triệu USD. Ông đã mở rộng công ty tới Tây Ban Nha và tám nước Mỹ La Tinh khác.

4. Domenico Dolce & Stefano Gabbana
Tổng tài sản: 2 tỷ USD mỗi người

Quốc tịch: Italy

Nguồn thu nhập: Hãng thời trang Dolce & Gabbana

Bộ đôi nhà thiết kế người Ý Domenico Dolce và Stefano Gabbana gia nhập danh sách tý phú nhờ doanh thu tăng mạnh của Dolce & Gabbana (đạt gần 1,5 tỷ USD năm 2011). Từ khi cặp đôi ra mắt công ty 28 năm trước, phong cách thời trang mạnh mẽ của thương hiệu này, với họa tiết in thú rừng hay lông thú màu hồng, đã trở thành tiêu điểm của các sàn diễn thời trang cũng như các buổi tiệc tùng. Năm 2012, Dolce & Gabbana đã tiến thêm một bước với dòng thời trang couture.

5. Michael Pieper
Tổng tài sản: 2 tỷ USD

Quốc tịch: Thụy Sĩ

Nguồn thu nhập: Dụng cụ nhà bếp

Michael Pieper là chủ tịch tập đoàn Artemis, bao gồm nhà sản xuất hệ thống nhà bếp Franke Artemis. Ông cũng là cổ đông lớn của tập đoàn Feintool, chuyên sản xuất dụng cụ cắt và công nghệ tự động. Thương hiệu Artemis công bố doanh thu 2,4 tỷ USD vào năm 2011.

6. Isabel dos Santos
Tổng tài sản: 2 tỷ USD

Quốc tịch: Angola

Nguồn thu nhập: Nhiều nguồn

Là con cả của vị tổng thống lâu đời Jose Eduardo dos Santos, Isabel dos Santos nắm cổ phần trong một số công ty tại Angola và Bồ Đào Nha. Cô là tỷ phú đầu tiên của nước này và là người phụ nữ giàu nhất châu Phi. Tài sản lớn nhất của cô với trị giá 1 tỷ USD là 25% cổ phần trong Unitel, một trong hai nhà mạng di động tại Angola, nơi cô là thành viên hội đồng quản trị.

7. Lei Jun
Tổng tài sản: 1,75 tỷ USD

Quốc tịch: Trung Quốc

Nguồn thu nhập: Điện thoại thông minh

Được xem như Steve Jobs của Trung Quốc, Lei Jun trở thành tỷ phú năm 2012 nhờ mức định giá tăng vọt của Xiaomi, một trong những công ty smartphone tăng trưởng nhanh nhất nước này. Lei là nhà đồng sáng lập, chủ tịch hội đồng quản trị và CEO của Xiaomi.

8. M.A. Yusuff Ali
Tổng tài sản: 1,5 tỷ USD

Quốc tịch: Ấn Độ

Nguồn thu nhập: Bán lẻ

Ông trùm bán lẻ tại Trung Đông lãnh đạo tập đoàn Lulu, có trụ sở tại Abu Dhabi. Tập đoàn này là chủ nhân của chuỗi cửa hàng bán lẻ Lulu với tổng doanh thu 4,25 tỷ USD, và đã được Deloitte xếp hạng trong số 10 thương hiệu bán lẻ tăng trưởng nhanh nhất thế giới. Ali sinh ra và học tập tại Ấn Độ, sau đó di cư tới Abu Dhabi vào những năm 1970 để tham gia hoạt động bán lẻ của gia đình.

9. Phạm Nhật Vượng
Phạm Nhật VượngTổng tài sản: 1,5 tỷ USD

Quốc tịch: Việt Nam

Nguồn thu nhập: Kinh doanh bất động sản

Người sáng lập tập đoàn bất động sản Vingroup là tỷ phú đầu tiên của Việt Nam ở tuổi 44. Ông đã khởi nghiệp từ một doanh nghiệp sản xuất mì ăn liền tại Ukraine.

10. Koh Wee Meng
Tổng tài sản: 1,4 tỷ USD

Quốc tịch: Singapore

Nguồn thu nhập: Bất động sản

Ông vua bất động sản và khách sạn Koh Wee Meng trở thành tỷ phú sau khi cổ phiếu tập đoàn Fragrance Group của ông tăng vọt trong năm ngoái.

(Theo Forbes)